Stop loss (cắt lỗ) là mức giá nói rằng "ý tưởng này đã sai". Khi thị trường chạm tới, bạn thoát, thường qua một lệnh stop đặt ở broker ngay lúc vào. Stop loss làm hai việc: nó chặn khoản lỗ trên một lệnh, và khoảng cách từ nó tới giá vào là cơ sở của khối lượng lệnh và của mọi bội số R.

Khoảng cách stop loss và rủi ro

rủi ro mỗi đơn vị = |giá vào − stop loss|
rủi ro = rủi ro mỗi đơn vị × khối lượng × giá trị hợp đồng

Long EUR/USD ở 1.0850 với stop loss ở 1.0820 là 30 pip rủi ro mỗi đơn vị. Trên 0,5 lot, với 10 USD mỗi pip mỗi lot, đó là 150 USD: 1R của lệnh này.

Đặt ở đâu

Stop loss thuộc về nơi ý tưởng giao dịch mất hiệu lực, không phải nơi khoản lỗ cảm thấy dễ chịu:

  • Cấu trúc: bên dưới đáy swing với lệnh Long, bên trên đỉnh swing với lệnh Short.
  • Biến động: một bội số của average true range, để nhiễu bình thường không quét bạn ra.
  • Thời gian: một số setup còn có stop theo thời gian, thoát nếu không có gì xảy ra trong một số nến nhất định.

Rồi tính khối lượng sao cho stop loss này bằng số tiền bạn sẵn sàng mất. Kéo stop loss sát hơn để tăng khối lượng là cách phổ biến nhất biến một setup tốt thành lệnh thua.

Vì sao nhật ký cần stop loss ban đầu

R được đo so với stop loss bạn có lúc vào. Nếu bạn dời nó về hòa vốn và bị quét, lệnh là 0R, không phải "−1R ở stop mới". Nếu bạn nới nó ra và lỗ nhiều hơn, lệnh là −1,8R, và con số đó là bằng chứng của việc dời stop loss. Hãy ghi stop loss ban đầu và giữ nguyên nó, bất kể sau đó xảy ra gì.

Trong SetupBook

Stop loss là một trường ở bước 1 của form nhập lệnh. Khi đã điền giá vào, stop loss và khối lượng, form tính rủi ro và sau đó là bội số R, và nó kiểm tra rằng stop loss nằm ở phía lỗ của giá vào theo hướng bạn chọn. Với Pro, lệnh gắn nhãn sai lầm "Không đặt stop" được tính vào chi phí sai lầm như mọi lệnh khác.